btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển

Lưu trên thiết bị này
Kinh tế, quốc phòng và an ninh ở biển, đảo · Chọn bài khác

Dầu mỏ và khí tự nhiên

Dầu mỏ và khí tự nhiên
Dầu mỏ và khí tự nhiên
Mở hình lớn
Thềm lục địa có nguồn dầu mỏ, khí tự nhiên tương đối lớn. SGK nêu tổng trữ lượng khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi ở nhiều bể trầm tích. Dầu quy đổi là cách đưa các nguồn năng lượng về một cơ sở tính, khác phép cộng trực tiếp tấn dầu với mét khối khí. Các bể được nêu gồm Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay–Thổ Chu, Tư Chính–Vũng Mây và nhóm bể Trường Sa–Hoàng Sa. Đọc tên bể theo nguồn, không tự dùng vị trí bể để phác ranh giới pháp lí.

Khoáng sản ven biển và tiềm năng khác

Ti-tan, cát thủy tinh, muối biển là những tài nguyên có giá trị, được khai thác ở các địa bàn phù hợp. Sách còn nêu tiềm năng băng cháy ở khu vực Hoàng Sa, Trường Sa, bể Phú Khánh,… Tiềm năng băng cháy không có nghĩa đã khai thác thương mại. Cần phân biệt phát hiện tài nguyên, trữ lượng, khả năng kĩ thuật–kinh tế và kết quả khai thác thực tế.

Điều kiện khai thác và bảo vệ

Thăm dò, công nghệ, vốn, vận chuyển, chế biến và thị trường phối hợp để chuyển tài nguyên thành sản phẩm. Khai thác cần hạn chế ô nhiễm, sự cố và tác động tới thủy sản, du lịch, đời sống ven biển. Khi đánh giá thế mạnh khoáng sản, nêu tài nguyên, địa bàn theo nguồn, khả năng phát triển và điều kiện bảo vệ. Không dùng một số trữ lượng để suy sản lượng của mọi năm.

Bài luyện

“Dầu quy đổi” trong thông tin trữ lượng có ý nghĩa gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhóm nào gồm các bể trầm tích được sách nêu?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách dùng thông tin băng cháy nào đúng?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Khai thác khoáng sản biển cần phối hợp điều gì?
Chọn một đáp án

Đang học