Cơ cấu tuổi và gia tăng tự nhiên
Theo khái quát SGK, nhiều nước phát triển có gia tăng tự nhiên thấp, cơ cấu già; nhóm đang phát triển có sự phân hóa, nhiều nước còn dân số trẻ và đang già hóa. Dân số già có thể làm tăng nhu cầu chăm sóc, phúc lợi và tạo sức ép lao động; dân số trẻ tạo cơ hội nguồn lao động nếu có đào tạo, việc làm phù hợp.
Cơ cấu tuổi trong bảng 1.3 dùng dưới 15; từ 15 đến 64; từ 65 trở lên. Không đổi ngưỡng tuổi khi so hai nước. Gia tăng tự nhiên âm cũng chưa tự đồng nghĩa tổng dân giảm, vì còn di cư.
Bài luyện
Theo hình năm 2020, tỉ trọng dân từ 65 tuổi trở lên của Nhật Bản so với Việt Nam thế nào?
Đó là nhóm dưới 15 tuổi, không phải từ 65 trở lên.
Tổng cơ cấu bằng nhau không làm từng bộ phận bằng nhau.
Nguồn dùng ngưỡng 65, cần giữ nguyên để đối chiếu.
Đúng. So cùng nhóm tuổi, cùng năm.
Lời giải
Đọc đúng nhóm tuổi theo chú giải: Nhật Bản 28,4%, Việt Nam 8,0% năm 2020. Không dùng giá trị của nhóm dưới 15 hoặc tự đổi ngưỡng.
Đô thị hóa, tuổi thọ và học vấn
Theo SGK, nhóm phát triển đô thị hóa sớm, tỉ lệ dân thành thị cao, hạ tầng khá hiện đại và đồng bộ; tuổi thọ, học vấn và chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục nhìn chung cao. Ở nhóm đang phát triển, đô thị hóa diễn ra nhanh nhưng tỉ lệ thành thị nhìn chung chưa cao; tuổi thọ, học vấn và dịch vụ y tế, giáo dục có xu hướng được cải thiện. Từng nước vẫn có sự khác biệt đáng kể.
Các nước khác nhau về tỉ lệ thành thị, tuổi thọ, học vấn và khả năng tiếp cận y tế, giáo dục. Tỉ lệ thành thị cao chưa tự bảo đảm mọi người có điều kiện sống giống nhau; tốc độ đô thị hóa nhanh chưa chắc đi cùng tỉ lệ cao nhất.
Bảng 1.3 SGK năm 2020 nêu tuổi thọ trung bình Nhật Bản 84,7 năm, Việt Nam 75,4 năm; số năm đi học trung bình của người từ 25 tuổi trở lên tương ứng 13,4 và 8,4 năm. Tuổi thọ là chỉ tiêu thống kê, không là tuổi mất chắc chắn của mỗi người; chỉ tiêu học vấn có nhóm tuổi xác định.
Bài luyện
“Số năm đi học trung bình của người từ 25 tuổi trở lên” cần được hiểu thế nào?
Đây không phải dự báo thời gian học tương lai.
Đó là chỉ tiêu khác.
Đúng. Cần giữ nhóm đối tượng và tính bình quân.
Nhóm đối tượng đã bị đổi.
Lời giải
Tên chỉ tiêu có cả đại lượng, tính bình quân và nhóm tuổi. Không đổi nó thành thống kê trẻ em, tương lai hoặc tỉ lệ thành thị.
Bài luyện
Từ tuổi thọ trung bình 84,7 năm, có thể kết luận mọi người đều sống đúng 84,7 năm không?
Thống kê dân số không cho kết luận cá nhân như vậy.
Đúng. Không gán bình quân thành kết quả của mọi người.
Trung bình không có ý nghĩa đó.
Bỏ đơn vị không đổi bản chất đại lượng.
Lời giải
Một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh đặc điểm dân số theo cách thống kê. Nó không xác định tuổi sống của mỗi cá nhân và không thay đánh giá cụ thể từng người.
Nhận xét có điều kiện trong từng nhóm
Khác biệt giữa nhóm nước là khái quát, không xóa sự khác nhau của từng quốc gia và các nhóm dân cư. Chất lượng sống ở nhóm đang phát triển có nhiều mức; y tế, giáo dục có thể được cải thiện trong quá trình phát triển.
Khi so sánh, dùng cùng năm và đúng tên chỉ tiêu; phân biệt dữ liệu đã quan sát với xu hướng khái quát. Không dùng một con số để đánh giá giá trị con người hoặc suy mọi nơi trong một nhóm đều có cùng khó khăn.
Bài luyện
Cách trình bày nào phù hợp khi so sánh xã hội hai nhóm nước?
Đúng. Trung bình nhóm không thay mọi quốc gia hoặc cá nhân.
Mỗi nước có điều kiện và số liệu khác nhau.
Làm sai bối cảnh và tính so sánh.
Chỉ tiêu kinh tế–xã hội không phải thước đo giá trị con người.
Lời giải
So sánh cần đúng phạm vi, năm, chỉ tiêu và cách diễn đạt. Dữ liệu giúp phân tích cơ hội, nhu cầu và sức ép, không dùng để gán đặc tính cố định cho mọi người.
Đang học