Nguồn năng lượng nằm bên trong Trái Đất
Nội lực là lực sinh ra trong lòng Trái Đất, liên quan nguồn năng lượng bên trong. Năng lượng ấy gắn với sự phân hủy chất phóng xạ, các phản ứng tỏa nhiệt, sự sắp xếp vật chất theo tỉ trọng và những quá trình khác.
Nội lực tác động đến địa hình qua vận động kiến tạo. Khi phân tích, cần tách nguồn năng lượng khỏi biểu hiện vận động: nguồn gốc giải thích vì sao có lực, còn nâng hạ, nén ép và tách dãn là những cách lực làm biến đổi vỏ.
Bài luyện
Nhóm thông tin nào nói về nguồn gốc nội lực?
Đó là nguồn năng lượng chủ yếu gắn với ngoại lực.
Nước chảy trên bề mặt là tác nhân ngoại lực.
Sóng biển tác động tới địa hình thuộc quá trình ngoại lực.
Đúng. Đây là nguồn năng lượng bên trong.
Lời giải
Nội lực có nguồn gốc từ năng lượng trong lòng Trái Đất. Phân hủy chất phóng xạ, phản ứng tỏa nhiệt và sắp xếp vật chất là các quá trình liên quan.
Hai hướng vận động, nhiều kết quả địa hình
Vận động theo phương thẳng đứng là nâng lên hoặc hạ xuống trên một khu vực rộng. Nếu đất được nâng lên hoặc hạ xuống so với mực biển, phạm vi biển và đất liền có thể thay đổi, tạo biển thoái hoặc biển tiến.
Vận động theo phương nằm ngang gây nén ép ở nơi này, tách dãn ở nơi khác. Đá có thể uốn thành nếp hoặc bị đứt gãy. Uốn nếp làm các lớp đá cong nhưng vẫn giữ tính liên tục; đứt gãy làm đá bị gãy vỡ, các khối có thể dịch chuyển tương đối.
Địa lũy và địa hào xét theo vị trí tương đối
Trong hệ đứt gãy, khối được nâng tương đối so với hai bên có thể tạo địa lũy; khối hạ tương đối có thể tạo địa hào. Từ “tương đối” rất cần thiết: phải so sánh các khối với nhau, không chỉ nhìn độ cao tuyệt đối của một điểm.
| Hiện tượng | Dấu hiệu nhận biết chính |
|---|---|
| Uốn nếp | Các lớp đá cong, chưa bị phá vỡ tính liên tục |
| Đứt gãy | Đá gãy vỡ, các khối dịch chuyển tương đối |
| Địa lũy | Khối nâng tương đối so với các khối hai bên |
| Địa hào | Khối hạ tương đối so với các khối hai bên |
Bài luyện
Quan sát các lớp đá cong thành nếp nhưng vẫn nối liên tục. Hiện tượng phù hợp là gì?
Bồi tụ là tích tụ vật liệu, khác với biến dạng các lớp đá do nén ép.
Phong hóa không phải hiện tượng các lớp đá cong liên tục trong mô tả.
Đúng. Dấu hiệu là các lớp bị cong nhưng giữ tính liên tục.
Mô tả không cho thấy đá gãy vỡ hoặc các khối tách rời.
Lời giải
Các lớp đá bị uốn cong nhưng chưa bị đứt đoạn thể hiện hiện tượng uốn nếp. Nếu đá gãy vỡ và các khối dịch chuyển tương đối thì cần xét đứt gãy.
Bài luyện
Trong một hệ đứt gãy, khối giữa hạ thấp tương đối so với hai khối bên. Dạng địa hình phù hợp là gì?
Không có quá trình tích tụ phù sa được mô tả.
Đúng. Địa hào gắn với khối hạ tương đối.
Địa lũy gắn với khối nâng tương đối.
Dữ kiện đã nêu hệ đứt gãy và sự dịch chuyển các khối.
Lời giải
Khối giữa hạ tương đối trong hệ đứt gãy tạo địa hào. Cần phân biệt với địa lũy là khối nâng tương đối.
Nội lực và hình dạng bề mặt
Xu hướng chung của nội lực là tạo sự gồ ghề, chênh lệch cao thấp trên bề mặt. Nhiều dãy núi và các cấu trúc lớn gắn với hoạt động kiến tạo. Tuy nhiên, địa hình quan sát hôm nay còn chịu phong hóa, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ. Vì thế, không quy mọi chi tiết địa hình hiện tại cho riêng nội lực.
Bài luyện
Một dãy núi được nâng lên rồi bị sông suối chia cắt. Cách giải thích nào phù hợp?
Đúng. Địa hình là kết quả tác động đồng thời, lâu dài của nhiều quá trình.
Ngoại lực vẫn tác động ở vùng núi.
Sự nâng lên kiến tạo gắn với nội lực.
Núi tiếp tục chịu tác động của các quá trình bên trong và trên bề mặt.
Lời giải
Sự nâng lên kiến tạo thể hiện vai trò nội lực. Sau đó và cả trong quá trình nâng, nước chảy cùng các tác nhân khác tiếp tục tác động, làm địa hình bị chia cắt.
Đang học