Nguồn lực gồm cả điều kiện và khả năng huy động
Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng hợp những điều kiện, tài sản và khả năng có thể huy động để phát triển một lãnh thổ. Không chỉ gồm tài nguyên thiên nhiên mà còn vị trí, lao động, vốn, tri thức, lịch sử – văn hóa, chính sách và các tiềm năng có cơ sở. Nguồn từ bên ngoài cũng có thể được huy động.
Một tiềm năng chưa tự biến thành kết quả sản xuất. Cần xem khả năng khai thác, điều kiện kết nối, công nghệ và tổ chức để biết nguồn lực được sử dụng ra sao.
Chia theo nguồn gốc để nhận ra tính chất
| Nhóm nguồn lực | Ví dụ khái quát |
|---|---|
| Vị trí địa lí | Vị trí với biển, thị trường, tuyến giao thông và các lãnh thổ khác |
| Tự nhiên | Đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản |
| Kinh tế – xã hội | Lao động, vốn, khoa học – công nghệ, chính sách, lịch sử – văn hóa |
Cách chia này hỏi nguồn lực thuộc nhóm tính chất nào. Chẳng hạn lao động có kĩ năng là nguồn lực kinh tế – xã hội, không phải khoáng sản chỉ vì tham gia một ngành khai thác.
Bài luyện
Nguồn lao động có kĩ năng thuộc nhóm nào khi phân theo nguồn gốc?
Cách phân loại đang xét vai trò lao động trong hệ nguồn lực kinh tế – xã hội.
Nơi ở không làm lao động trở thành nhóm vị trí.
Lao động có thể ở trong hoặc từ ngoài lãnh thổ; đó là cách chia khác.
Đúng. Kĩ năng, lực lượng lao động thuộc nhóm kinh tế – xã hội.
Lời giải
Theo nguồn gốc, lao động và trình độ của lao động thuộc nhóm kinh tế – xã hội. Muốn xác định bên trong hay bên ngoài phải xét thêm phạm vi lãnh thổ.
Chia bên trong – bên ngoài phải nêu lãnh thổ
Khi lấy một quốc gia làm phạm vi, nguồn lực bên trong gồm vị trí, tự nhiên và kinh tế – xã hội của quốc gia; nguồn từ ngoài có thể là vốn đầu tư, nhân lực, công nghệ, thị trường nước ngoài. Nếu xét một địa phương, ranh giới phân loại phải theo địa phương đó.
Hai cách chia có thể dùng đồng thời. Vốn đầu tư từ nước ngoài vừa là nguồn lực kinh tế – xã hội theo nguồn gốc, vừa thuộc bên ngoài khi xét phạm vi quốc gia tiếp nhận. Không coi hai nhãn này mâu thuẫn.
Đọc sơ đồ nguồn lực theo nhánh
Dùng sơ đồ trang 63 SGK: xác định hai nhánh bên trong và bên ngoài, đọc từng nhóm ở mỗi nhánh rồi tìm một ví dụ. Sau đó phân loại lại chính ví dụ ấy theo nguồn gốc. Chẳng hạn, nguồn vốn từ ngoài và vốn trong nước đều thuộc nhóm kinh tế – xã hội, nhưng khác nhánh theo phạm vi.
Sơ đồ giúp thấy các cách chia có liên hệ, không phải mỗi nhãn chỉ thuộc duy nhất một cách xét.
Bài luyện
Khi xét quốc gia tiếp nhận, vốn đầu tư nước ngoài được phân loại thế nào?
Vốn không thuộc nhóm vị trí địa lí.
Nguồn lực không chỉ gồm điều kiện tự nhiên.
Đúng. Hai cách chia trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Vốn thuộc kinh tế – xã hội; nguồn từ nước ngoài là bên ngoài theo phạm vi đã nêu.
Lời giải
Một đối tượng có thể mang nhãn của cả hai hệ phân loại. Vốn thuộc kinh tế – xã hội và từ bên ngoài đối với lãnh thổ tiếp nhận đang xét.
Bài luyện
Trước khi gọi một nguồn vốn là bên trong hay bên ngoài, cần xác định gì?
Quy mô vốn không thay việc xác định nơi phát sinh.
Đúng. Phân loại phụ thuộc ranh giới đã chọn.
Màu trình bày không xác định nguồn gốc lãnh thổ.
Có thể xét quốc gia hoặc địa phương; cần nêu rõ.
Lời giải
Nguồn bên ngoài của một địa phương có thể vẫn nằm trong cùng quốc gia. Nêu lãnh thổ trước giúp tránh đổi phạm vi giữa các nhận xét.
Bài luyện
Nhận định nào phù hợp với khái niệm nguồn lực?
Đúng. Khái niệm rộng hơn tài nguyên thiên nhiên.
Đất, nước, lao động, vốn và nhiều yếu tố khác cũng là nguồn lực.
Cần điều kiện huy động và sử dụng nguồn lực.
Bài học xét khả năng huy động nguồn từ bên ngoài.
Lời giải
Nguồn lực là tổng hợp các điều kiện, tài sản, khả năng phục vụ phát triển. Kết quả còn phụ thuộc cách kết hợp và sử dụng, không tự hình thành chỉ vì có tiềm năng.
Đang học