btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Lai cải tiến và cải tạo: đọc hướng lai trở lại

Lưu trên thiết bị này
Công nghệ giống vật nuôi · Chọn bài khác

Phân biệt theo giống được dùng khi lai trở lại

Trong lai cải tiến của ví dụ SGK, giống nền A có những đặc điểm cần giữ và một số điểm muốn bổ sung từ B. Sau A × B, con lai được lai trở lại với A qua các bước theo chương trình. Mục tiêu là giữ chủ yếu nền A và bổ sung đặc điểm mong muốn, kèm chọn lọc, đánh giá. Trong lai cải tạo của ví dụ, A cần được thay đổi cơ bản theo hướng sản xuất của B. Sau phép đầu, con lai tiếp tục lai trở lại với B theo chương trình, làm phần nguồn gốc B tăng lên. Không chỉ đổi tên hai phương pháp: cần đọc giống dùng ở bước trở lại và mục đích của việc lai.

Tỉ lệ theo sơ đồ không tự xác nhận tính trạng đã đạt

Ví dụ A × B cho AB có phần nguồn gốc 1/2 A và 1/2 B. Nếu AB lai với A thì phần A của nhóm tiếp là 1/2 + 1/2 × 1/2 = 3/4, phần B là 1/4. Nếu lai trở lại với B thì kết quả đối xứng theo sơ đồ: 1/4 A và 3/4 B. Khi chương trình đạt yêu cầu, có thể chọn phối trong nhóm để tiếp tục xây dựng dòng/giống. Cụm “tự giao” ở sơ đồ động vật nói việc các cá thể trong nhóm giao phối với nhau, không phải một cá thể tự thụ tinh. Đạt một phần nguồn gốc chưa tự chứng minh tính trạng mong muốn đã cố định hoặc khả năng thích nghi được giữ nguyên; vẫn cần chọn và kiểm tra.

Cùng bước đầu nhưng rẽ hai hướng

Cả hai cách đều có thể bắt đầu bằng A × B. Điểm cần theo dõi ở bước kế là dùng lại A hay B và vì sao. Chỉ nhìn phép lai đầu sẽ chưa phân biệt đầy đủ hai hướng. Tỉ lệ 3/4 sau một lần lai trở lại là kết quả theo sơ đồ của bước đó, không là định mức tối ưu cho mọi giống.

Bài luyện

Nhóm có nguồn gốc 3/4 A, 1/4 B lại phối với giống A. Phần A theo sơ đồ ở nhóm con là bao nhiêu?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Trong ví dụ cải tạo theo hướng B của bài, nhóm con lai được lai trở lại với giống nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách hiểu nào đúng về “tự giao” trong sơ đồ lai động vật đang xét?
Chọn một đáp án

Đang học