Cùng bắt đầu
Cây thủy canh không trồng trong đất vẫn cần nước, chất khoáng, ánh sáng và oxygen cho rễ. Từ ví dụ này, ta phân biệt nhu cầu của cây với cách cung cấp nhu cầu ấy.
Đất là môi trường sống của rễ
Đất trồng gồm chất khoáng, chất hữu cơ, nước, không khí và sinh vật. Mỗi thành phần có một vai trò: nước hòa tan và vận chuyển chất dinh dưỡng; không khí trong các lỗ rỗng cung cấp oxygen cho rễ hô hấp; phần rắn giúp giữ cây và cung cấp chất khoáng. Vì vậy, đất bị nén chặt hoặc ngập úng kéo dài có thể làm rễ thiếu oxygen dù trong đất có nhiều nước.
Khi xét phản ứng đất, pH thấp biểu thị chua, pH cao biểu thị kiềm theo thang đo. Cây cần khoảng phù hợp riêng; không phải mọi đất chua đều phải đưa về cùng một pH.
Cải tạo cần theo hạn chế của đất: đất chua có thể dùng vôi với mức phù hợp kết quả phân tích; đất mặn cần quản lí nước, tiêu thoát và rửa mặn khi đủ điều kiện; đất bạc màu cần bổ sung hữu cơ, dinh dưỡng và chống xói mòn. Không dùng một biện pháp cho mọi loại đất.
Phân bón khác nhau về thành phần và cách dùng
Căn cứ vào nguồn gốc và thành phần, phân bón thường được chia thành phân bón hóa học, phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh. Đặc điểm của từng nhóm quyết định cách bảo quản và sử dụng.
| Nhóm | Điểm cần hiểu |
|---|---|
| Hóa học | Cung cấp dinh dưỡng khoáng; mức hòa tan, hàm lượng tùy loại |
| Hữu cơ | Bổ sung hữu cơ, góp phần cải thiện đất; nhiều loại cần ủ xử lí trước dùng |
| Vi sinh | Chứa vi sinh vật sống có ích, tác dụng phụ thuộc chủng và điều kiện |
Bón lót trước hoặc lúc gieo trồng để tạo nguồn dinh dưỡng ban đầu; bón thúc trong quá trình cây sinh trưởng. Lân ít tan thường dùng bón lót; đạm, kali dễ tan thường dùng bón thúc theo nhu cầu. NPK có thể dùng lót hoặc thúc tùy sản phẩm, cây và quy trình.
Bảo quản khô, kín, đúng hướng dẫn giúp tránh biến chất. Phân vi sinh cần giữ khả năng sống của vi sinh vật, không phơi nắng hay trộn tùy tiện với chất diệt khuẩn. “Có vi sinh vật” không đồng nghĩa mọi loại đều cố định nitrogen hoặc có dinh dưỡng cao.
Ví dụ: cần 12 kg nitrogen nguyên chất, phân có 20% nitrogen, hiệu suất sử dụng giả định 100% theo đề. Khối lượng phân là 12/0,20 = 60 kg. Phải phân biệt lượng chất dinh dưỡng với khối lượng sản phẩm phân bón.
Chọn giống khác với nhân giống
Chọn giống tìm cá thể, dòng có đặc tính mong muốn; tạo giống tạo tổ hợp hoặc biến đổi mới; nhân giống tăng số cây giống đã có.
Gieo hạt là nhân giống hữu tính, cây con có thể phân li tính trạng. Giâm cành làm cành đã cắt ra rễ; chiết làm cành ra rễ khi còn trên cây mẹ; ghép kết hợp bộ phận giống cần nhân với gốc ghép tương thích. Các cách sinh dưỡng giúp giữ đặc tính giống nhưng có thể truyền bệnh từ cây mẹ. Nuôi cấy mô hỗ trợ nhân nhanh trong điều kiện kiểm soát, không có nghĩa mọi cây ra ngoài đều sống hoặc luôn sạch mọi bệnh.
Theo quy trình và phối hợp phòng trừ
Quy trình thường đi từ làm đất, chuẩn bị giống đến gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch và bảo quản. Thu hoạch đúng độ chín, thao tác ít tổn thương; sản phẩm cần điều kiện bảo quản phù hợp để hạn chế mất nước, hô hấp và vi sinh vật gây hỏng.
Sâu hại gây tổn thương do hoạt động ăn, chích hút…; bệnh là trạng thái bất thường do tác nhân hoặc điều kiện gây ra. Lá vàng chưa đủ chỉ ra một loại bệnh. Phòng trừ tổng hợp phối hợp giống, canh tác, theo dõi đồng ruộng, bảo vệ thiên địch và biện pháp cần thiết đúng lúc. Thuốc phải đúng đối tượng, hướng dẫn và thời gian cách li; không phun định kì chỉ vì sợ có sâu.
Nhà màng, tưới nhỏ giọt và cảm biến giúp kiểm soát điều kiện, giảm một số hao phí khi dùng đúng. Thủy canh cung cấp dinh dưỡng qua dung dịch; khí canh đưa dung dịch dạng sương tới rễ. Cả hai vẫn cần kiểm soát dinh dưỡng, pH, nước và oxygen. Thu gom bao bì, xử lí phụ phẩm phù hợp giúp giảm ô nhiễm; không đốt, xả tùy tiện.
Ví dụ số liệu và ứng dụng trong trồng trọt
Thử 160 hạt, có 136 hạt nảy mầm đạt tiêu chí: tỉ lệ là 136/160 × 100% = 85%. Tổng chi phí bằng cộng các khoản trong đề; chẳng hạn giống 200 nghìn, vật tư 400 nghìn, công 600 nghìn cho tổng 1,2 triệu đồng, chưa có khoản khác.
Máy tưới hỗ trợ chăm sóc; robot thu hoạch có thể dùng camera và AI nhận diện quả chín. Cảm biến độ ẩm phải đặt đúng vùng cần theo dõi; đặt sai vị trí thì số đo không đại diện nhu cầu của rễ.
Luân canh phù hợp góp phần ngắt nguồn thức ăn hoặc vòng đời của một số dịch hại. Sâu tơ, sâu cuốn lá là ấu trùng côn trùng. Làm khô hạt đến độ ẩm phù hợp giúp hạn chế nấm mốc và hao hụt; chế biến tạo sản phẩm đa dạng, tăng giá trị và có thể kéo dài bảo quản, không làm tăng diện tích canh tác hay năng suất sinh học của vụ đã thu hoạch.
Ví dụ xem cách làm
Muốn nhân cây ăn quả và giữ đặc tính tốt của giống, nên chọn gieo hạt hay phương pháp nhân giống sinh dưỡng phù hợp? Vì sao cây mẹ vẫn phải khỏe?
Lời giải
Có thể chọn ghép, chiết hoặc phương pháp sinh dưỡng phù hợp với loài để giữ đặc tính tốt của giống. Cây mẹ vẫn phải khỏe vì tác nhân gây bệnh có thể truyền qua vật liệu nhân giống; giữ được đặc tính di truyền không có nghĩa là tự loại bỏ mầm bệnh.
Ví dụ xem cách làm
Một hệ thủy canh chỉ dùng nước sạch, không bổ sung khoáng lâu dài, được giải thích rằng “không có đất thì cây không cần dinh dưỡng”. Nhận xét?
Lời giải
Sai. Thủy canh thay cách cung cấp nước và khoáng, không bỏ nhu cầu dinh dưỡng. Cần dung dịch dinh dưỡng phù hợp, oxygen cho rễ và các điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, pH theo cây.
Những điều cần nhớ
Chọn giải pháp từ nhu cầu cây và hạn chế thực tế. Nhớ sự khác nhau giữa bón lót–bón thúc, chọn–nhân giống và công nghệ hỗ trợ–điều kiện sống bắt buộc.
Đang học