Cùng bắt đầu
Hai con vật cùng giống nhưng khác tuổi, khối lượng hoặc giai đoạn sinh sản không nhất thiết ăn cùng khẩu phần. Ta cần xem nhu cầu trước khi chọn thức ăn và cách chăm sóc.
Giống quyết định tiềm năng, chăm sóc giúp thể hiện
Chăn nuôi cung cấp thịt, trứng, sữa, nguyên liệu chế biến, phân hữu cơ và trong một số hoạt động cả sức kéo. Lương thực như lúa, ngô chủ yếu thuộc trồng trọt.
Giống vật nuôi có các đặc tính tương đối ổn định về ngoại hình, sinh trưởng, sinh sản và sản phẩm. Chọn giống dựa vào mục tiêu, đặc tính, năng suất và hồ sơ; không chỉ chọn con to nhất.
Nhân giống thuần chủng cho đực, cái cùng giống giao phối nhằm duy trì và phát triển giống. Lai giống cho giao phối các giống khác nhau để kết hợp đặc tính, có thể khai thác ưu thế lai. Con lai không mặc nhiên luôn tốt hơn trong mọi điều kiện; không dùng mọi con lai thương phẩm làm giống cho đời sau.
Thụ tinh nhân tạo đưa tinh đã thu, xử lí phù hợp vào đường sinh dục con cái; cấy truyền phôi chuyển phôi sang con nhận thích hợp. Đây là cách hỗ trợ nhân giống, không tự tạo ra tính trạng tốt nếu chọn vật liệu ban đầu kém.
Từ nhu cầu dinh dưỡng đến khẩu phần ăn
Vật nuôi cần dinh dưỡng để duy trì hoạt động sống, sinh trưởng, sinh sản và tạo sản phẩm. Từ nhu cầu đó, **tiêu chuẩn ăn** quy định lượng chất dinh dưỡng cần cung cấp cho một con vật trong một khoảng thời gian, thường là một ngày. **Khẩu phần ăn** là loại và lượng thức ăn cụ thể được phối hợp để đáp ứng tiêu chuẩn ăn.
Protein cần cho xây dựng cơ thể và sản phẩm; carbohydrate, lipid cung cấp năng lượng; vitamin, khoáng tham gia điều hòa, cấu tạo; nước luôn cần thiết. Cân đối cả năng lượng và các chất, không tăng riêng protein vô hạn.
Thức ăn xanh, thô, tinh và thức ăn bổ sung có vai trò khác nhau. Ủ chua bảo quản thức ăn xanh nhờ lên men trong điều kiện phù hợp, hạn chế không khí; ủ tốt không đồng nghĩa dùng được thức ăn đã mốc hỏng. Kho cần tránh ẩm, sâu mọt, động vật gây hại và giữ đúng hạn dùng.
Ví dụ: tính lượng dinh dưỡng
Một hỗn hợp giả định gồm 3 kg nguyên liệu A có 10% protein và 1 kg B có 30% protein, cùng cơ sở khối lượng. Protein tổng là 3 × 0,10 + 1 × 0,30 = 0,6 kg. Khối lượng hỗn hợp là 4 kg, nên tỉ lệ protein là 0,6/4 × 100% = 15%.
Không lấy trung bình (10% + 30%)/2 vì khối lượng hai nguyên liệu khác nhau. Kết quả protein chưa đủ chứng minh khẩu phần cân đối mọi chất.
Đọc lượng thức ăn và vật chất khô
Vật chất khô là phần còn lại khi loại nước theo phép xác định. Thức ăn có 20% vật chất khô thì 15 kg thức ăn chứa 15 × 20% = 3 kg vật chất khô. Với 40 con, mỗi con 1,5 kg/ngày trong 5 ngày, tổng là 40 × 1,5 × 5 = 300 kg, chưa tính hao hụt.
Chọn bò sữa cần quan tâm năng suất, chất lượng sữa và các tiêu chí giống liên quan. Rau xanh bổ sung vitamin, khoáng cùng chất xơ và các chất khác; sữa có thể chế biến thành sữa chua, phô mai để đa dạng sản phẩm.
Ví dụ xem cách làm
Trộn 2 kg A chứa 12% protein với 2 kg B chứa 20%, cùng cơ sở khối lượng. Tính tỉ lệ protein. Có thể dùng kết quả này làm bằng chứng đủ mọi dinh dưỡng chưa?
Lời giải
Protein là 2 × 0,12 + 2 × 0,20 = 0,64 kg; hỗn hợp 4 kg nên đạt 16%. Chưa đủ: còn xét năng lượng, khoáng, vitamin, nước, khả năng tiêu hóa và nhu cầu vật nuôi.
Chuồng phù hợp và phòng bệnh từ đầu
Chuồng phải phù hợp loài, tuổi, mật độ; khô ráo, thoáng nhưng tránh điều kiện gây stress, thuận tiện vệ sinh và thu gom chất thải. Địa điểm cần tách biệt phù hợp để hạn chế ảnh hưởng lên người và vật nuôi. Cảm biến, thông gió tự động chỉ hữu ích khi được theo dõi, bảo dưỡng.
An toàn sinh học nhằm ngăn tác nhân xâm nhập, phát tán: kiểm soát con giống mới, cách li theo quy trình, vệ sinh và sát trùng, quản lí người, phương tiện, thức ăn, nước. Vaccine dùng phòng bệnh phù hợp đối tượng và lịch; không chữa mọi bệnh đã phát. Kháng sinh không điều trị virus và không thay vệ sinh, vaccine.
Khi đàn giảm ăn, sốt, chết bất thường, cần tách, báo người có chuyên môn và xử lí theo quy trình; không bán chạy hoặc di chuyển làm lây bệnh. Sản phẩm cần bảo đảm vệ sinh và thời gian ngừng thuốc theo hướng dẫn; ghi chép phục vụ truy xuất.
Xử lí chất thải theo cả quá trình
Ủ phân đúng quy trình giúp ổn định hữu cơ và giảm mầm bệnh. Hầm biogas phân giải hữu cơ trong điều kiện kị khí, tạo khí dùng làm năng lượng và giảm tải ô nhiễm. Nước sau biogas vẫn phải được quản lí, có thể cần xử lí tiếp trước sử dụng hoặc thải; không mặc định hoàn toàn sạch.
Đệm lót sinh học dùng vi sinh vật phân giải chất thải trong lớp lót, cần duy trì độ ẩm, độ thoáng, mật độ và thay thế phù hợp. Không có một công nghệ tự xử lí mọi lượng chất thải mà không cần quản lí.
Ủ compost chủ yếu là quá trình hiếu khí; khác biogas phân giải kị khí để thu khí. Thu gom, sử dụng khí biogas phù hợp giúp hạn chế methane thoát trực tiếp, nhưng hệ thống phải kiểm soát rò rỉ. Làm sạch chất bẩn trước sát trùng giúp chất sát trùng tiếp xúc hiệu quả hơn. Chuồng kín cần vốn, điện và người vận hành; mất thông gió có thể gây nguy hiểm cho đàn. Thiết bị nhận diện điện tử phối hợp cảm biến, phần mềm giúp theo dõi từng cá thể, vẫn cần người kiểm tra.
Ví dụ xem cách làm
Trang trại có biogas nên xả ngay mọi nước sau hầm ra kênh, đồng thời bỏ vệ sinh chuồng vì đã có vaccine. Hai lập luận sai ở đâu?
Lời giải
Biogas giảm ô nhiễm nhưng không bảo đảm nước đầu ra luôn đạt yêu cầu; cần kiểm tra và xử lí tiếp phù hợp. Vaccine là một biện pháp phòng bệnh cụ thể, vẫn phải vệ sinh và giữ an toàn sinh học.
Những điều cần nhớ
Giống, dinh dưỡng, chuồng và phòng bệnh phải phối hợp. Tiêu chuẩn ăn là nhu cầu dinh dưỡng; khẩu phần là thức ăn cụ thể. Công nghệ xử lí cần vận hành đúng và theo dõi đầu ra.
Đang học