Hiểu đúng linh kiện
Một số tụ dùng mã **ba chữ số** theo quy ước SGK15: hai chữ số đầu tạo hệ số, chữ số cuối là số mũ của 10 và đơn vị mặc định là **pF**. Vì thế `101=10×10¹=100 pF`, còn `103=10×10³=10 000 pF=10 nF=0,01 µF`. Quy tắc này **chỉ áp dụng khi đã xác định đúng kiểu mã của tụ**, không đọc mọi số in trên mọi linh kiện theo một cách. Nhãn tụ có thể ghi điện dung, dung sai, điện áp, cực tính, nhiệt độ hoặc mã loại. Muốn đo điện dung: chọn đồng hồ có chế độ C phù hợp, dùng **tụ rời đã được người phụ trách xả/xác nhận an toàn**, đặt đúng que nếu đồng hồ/loại tụ yêu cầu, kiểm thang đo và so với **dung sai** của datasheet. Số đo khác trị danh định không tự chứng minh hỏng; phép đo bị ảnh hưởng bởi sai số đồng hồ, nhiệt độ, điện dung que đo và việc đo trong mạch.
Ví dụ phân tích
Mã `103` theo quy ước trên cho 10 nF, không phải 103 µF. Nếu gặp dòng chữ `10 µF 16 V`, đó là nhãn điện dung và điện áp, không phải mã ba chữ số cần giải mã.
Bài luyện
Mã tụ 103 theo quy ước ba chữ số trong SGK15 là bao nhiêu?
Sai đơn vị.
Đúng. 10×10³ pF.
Sai cách đọc.
Đó là mã 101.
Lời giải
10×10³ pF.
Bài luyện
Mã 101 trong cùng quy ước là gì?
Đúng. 10×10¹ pF=100 pF.
Sai.
Đó là 103.
Sai.
Lời giải
10×10¹ pF=100 pF.
Bài luyện
Đồng hồ đo một tụ rời lệch nhẹ so với nhãn; có thể kết luận ngay tụ hỏng không?
Quá tuyệt đối.
Màu không đủ.
Nhầm đại lượng.
Đúng. Sai số đo và dung sai phải được xét.
Lời giải
Sai số đo và dung sai phải được xét.
Đang học