Hiểu và vận dụng
Với BJT rời đã tách nguồn, **tra datasheet đúng mã** để biết B/C/E và NPN hay PNP. Trong mô hình tiếp giáp, NPN có thể kiểm B–E và B–C bằng diode mode với que đỏ vào B, que đen lần lượt vào E/C; PNP đảo chiều que. Ở chiều phù hợp có thể thấy điện áp thuận; chiều đảo thường `OL` hoặc rất cao. Phải xem **cả hai cặp và hai chiều**, xét loại/đồng hồ; số 0 hoặc `OL` một phép đo không đủ kết luận “transistor hỏng”. Phép này chủ yếu phát hiện một số lỗi tiếp giáp hoặc nhầm chân, **không kiểm đầy đủ** hệ số khuếch đại, khả năng chịu điện áp hay hoạt động trong mạch. Nếu chân còn nối trong mạch, các đường khác làm kết quả khó giải thích. Giáo viên phụ trách chuẩn bị linh kiện rời và đồng hồ, học sinh ghi bố trí que, số đo, giả thiết và giới hạn kết luận; không đo thiết bị đang cấp nguồn.
Ví dụ phân tích
Một NPN đo B–E thuận 0,67 V, B–C thuận 0,65 V và đảo que đều `OL`: kết quả **phù hợp** hai tiếp giáp. Nó chưa chứng minh transistor đạt mọi thông số hay sẽ bật tải nếu mạch thiếu điện trở/nguồn.
Bài luyện
NPN rời có hai tiếp giáp thuận khi que đỏ đặt ở B và que đen lần lượt ở đâu?
Đúng. B–E và B–C là hai cặp kiểm.
Không đo được.
Nguy hiểm.
Vỏ không là chân đo.
Lời giải
B–E và B–C là hai cặp kiểm.
Bài luyện
Hai tiếp giáp đo phù hợp có chứng minh transistor đạt toàn bộ chức năng không?
Quá rộng.
Vẫn cần thông số.
OL chiều ngược có thể bình thường.
Đúng. Đây chỉ là kiểm tra giới hạn.
Lời giải
Đây chỉ là kiểm tra giới hạn.
Bài luyện
Vì sao cần biết pinout trước khi đo BJT?
Sai.
Loại có liên quan.
Đúng. Sai chân làm kết quả vô nghĩa.
Không liên quan.
Lời giải
Sai chân làm kết quả vô nghĩa.
Đang học