Hiểu và vận dụng
**Transistor lưỡng cực (BJT)** trong SGK16 có ba cực: **base B, collector C, emitter E**. Nó có thể được bố trí làm **bộ khuếch đại tín hiệu** hoặc **công tắc điện tử**; đây là hai chế độ ứng dụng, không phải lựa chọn loại trừ. Hai dạng thường học là NPN và PNP, khác chiều mũi tên ở **cực E** trên kí hiệu. NPN có mũi tên E hướng **ra**; PNP hướng **vào**. Với mạch công tắc NPN, dòng điều khiển qua B–E và mạch tải C–E phải được thiết kế giới hạn dòng, điện áp và công suất. Chỉ biết `U_BE` xấp xỉ 0,6–0,7 V **không đủ** bảo đảm tải chạy; còn nguồn, điện trở hạn dòng, hướng chân và trạng thái mạch. Không suy vị trí B/C/E theo việc linh kiện có ba chân hoặc theo dáng vỏ: tra datasheet **đúng mã và đúng kiểu vỏ** trước khi lắp.
Ví dụ phân tích
Trong sơ đồ điều khiển đèn nhỏ bằng NPN, chân B nhận tín hiệu qua điện trở hạn dòng, E nối điểm tham chiếu, C đi với nhánh tải. Khi điều kiện phân cực phù hợp, transistor có thể cho dòng qua tải; bài học chỉ phân tích chức năng, không quy định giá trị linh kiện cho thi công.
Bài luyện
Ba cực của BJT gọi là gì?
Dây nguồn.
Đơn vị đo.
Đúng. Đây là kí hiệu ba cực SGK16.
Thuộc linh kiện khác.
Lời giải
Đây là kí hiệu ba cực SGK16.
Bài luyện
Mũi tên trên kí hiệu BJT thường đặt ở cực nào?
Có mũi tên.
Đúng. Mũi tên phân biệt NPN/PNP ở E.
Sai vị trí.
Sai vị trí.
Lời giải
Mũi tên phân biệt NPN/PNP ở E.
Bài luyện
BJT chỉ có công dụng khuếch đại, không thể dùng như công tắc?
Đúng. SGK16 nêu hai công dụng.
Số chân không quyết định.
Không suy được.
Không liên quan.
Lời giải
SGK16 nêu hai công dụng.
Đang học