Từ chuyển động quay đến đóng mở
Ở **kiểu xu páp treo có đũa đẩy** của SGK, trục khuỷu dẫn động trục cam qua bộ truyền phù hợp; vấu cam đẩy con đội/đũa/cò để **mở xu páp**, lò xo đẩy xu páp **đóng** khi vấu cam qua. Với động cơ bốn kì, trục cam thường quay **một vòng khi trục khuỷu quay hai vòng** để thời điểm nạp/thải lặp đúng chu trình. Có kiểu xu páp đặt ở thân máy; cũng có kiểu trục cam đặt trên nắp máy với cơ cấu dẫn động khác. Vì vậy không coi đũa đẩy là chi tiết bắt buộc mọi máy. Ở một số động cơ hai kì, pít tông che/mở cửa khí; có thiết kế dùng xu páp. Điều cần nhớ là **điều phối trao đổi khí đúng thời điểm**, không phải một cấu hình duy nhất.
Vấu cam vừa rời con đội
Lực mở do vấu cam giảm, lò xo có thể đưa xu páp trở lại ghế để đóng cửa. Nếu đóng/mở sai thời điểm, nạp hoặc thải bị ảnh hưởng. Bài chỉ giải thích sơ đồ, không cung cấp cách chỉnh trục cam trên động cơ thật.
Bài luyện
Trong cơ cấu xu páp của ví dụ, bộ phận nào tạo lực mở đúng thời điểm?
Đúng. Hình dạng vấu cam quyết định chuyển động mở.
Màu không tạo lực.
Nhiên liệu rỗng không điều khiển.
Giảm âm không mở xu páp.
Lời giải
Hình dạng vấu cam quyết định chuyển động mở.
Bài luyện
Với bốn kì, trục cam thường quay thế nào so với trục khuỷu?
Ngược tỉ số.
Cam phải quay.
Phải đồng bộ.
Đúng. Chu trình bốn kì dài hai vòng trục khuỷu.
Lời giải
Chu trình bốn kì dài hai vòng trục khuỷu.
Bài luyện
Mọi động cơ hai kì đều không có xu páp?
Vẫn có trao đổi khí.
Động cơ cần điều phối khí.
Đúng. Cấu hình phụ thuộc thiết kế.
Có ngoại lệ.
Lời giải
Cấu hình phụ thuộc thiết kế.
Đang học