Nhiệt điện trở
Một nhiệt điện trở có phần vật liệu nhạy nhiệt, điện cực và dây nối; lớp vỏ bảo vệ/cách điện tùy loại. Khi nhiệt độ đổi, điện trở đổi. Trong mạch phân áp có nguồn ổn định và điện trở chuẩn, điện áp đo cũng đổi; cần đặc tuyến/hiệu chuẩn để suy ra nhiệt độ. Không thể chỉ nhìn điện áp tăng mà luôn kết luận nhiệt độ tăng: dấu quan hệ còn tùy loại nhiệt điện trở và vị trí đo trong mạch.
Tụ nhạy độ ẩm
Cảm biến độ ẩm kiểu điện dung gồm hai điện cực và lớp điện môi tiếp xúc với hơi ẩm. Độ ẩm đổi làm điện môi thay đổi, nên điện dung đổi; mạch có thể chuyển biến thiên đó thành tần số. Đây là **độ ẩm tương đối của không khí** khi cảm biến/mạch được thiết kế để đo RH. Nó khác cảm biến đo độ ẩm đất; không dùng số RH của phòng để suy trực tiếp đất ướt.
Bài luyện
Vì sao điện áp phân áp đổi khi dùng nhiệt điện trở?
Đúng. Tỉ số điện trở đổi làm điện áp tại điểm đo đổi.
Tên không ảnh hưởng mạch.
Màn hình không là phần tử phân áp.
Giấy không ảnh hưởng mạch đã nêu.
Lời giải
Tỉ số điện trở đổi làm điện áp tại điểm đo đổi.
Bài luyện
Với cảm biến ẩm kiểu tụ, hơi ẩm tác động vào phần nào để làm đổi điện dung?
Nút in không đo ẩm.
LED không là tụ nhạy ẩm.
Tên tệp không đổi điện dung.
Đúng. Tính chất lớp điện môi đổi theo hơi ẩm là cơ sở đo.
Lời giải
Tính chất lớp điện môi đổi theo hơi ẩm là cơ sở đo.
Bài luyện
Số đo độ ẩm tương đối không khí có cho biết ngay đất trong chậu ướt hay khô không?
Màu màn hình không là phép đo.
Cần xác định đại lượng cần đo.
Đúng. RH trong không khí không đo trực tiếp nước trong đất.
Không có quan hệ bằng nhau bắt buộc.
Lời giải
RH trong không khí không đo trực tiếp nước trong đất.
Đang học