Ba lớp thông tin
Cảm biến nhận một **đại lượng vật lí** như nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng. Phần tử nhạy đổi một tính chất điện khi đại lượng đó đổi; mạch đo biến sự thay đổi thành điện áp, tần số hoặc dữ liệu số cho bộ điều khiển. Vì vậy “cảm biến nhiệt độ cho ra độ C” là cách nói tắt: có thể cần mạch đo và quy đổi theo đặc tính thiết bị. Bộ điều khiển phải biết tín hiệu tương ứng đại lượng nào và ngưỡng nào có nghĩa.
Đừng lẫn nguyên nhân và tín hiệu
Với nhiệt điện trở, nhiệt độ đổi → điện trở đổi → mạch phân áp có thể cho điện áp đổi → phần mềm quy đổi ra nhiệt độ. Với tụ nhạy ẩm, độ ẩm đổi → điện dung đổi → mạch dao động có thể cho tần số đổi. Hình/chuỗi này là mô hình khái quát; chiều và độ lớn thay đổi phụ thuộc loại linh kiện và mạch.
Bài luyện
Trong nhiệt điện trở, đại lượng môi trường tác động đầu tiên là gì?
Dây USB không là đại lượng đang xét.
Đúng. Nhiệt độ làm điện trở phần tử thay đổi.
Tên không là đại lượng đo.
Màu màn hình không là đầu vào cảm biến.
Lời giải
Nhiệt độ làm điện trở phần tử thay đổi.
Bài luyện
Với cảm biến ẩm kiểu tụ trong bài, tính chất điện thay đổi trực tiếp là gì?
Đúng. Hơi ẩm tác động lớp điện môi nên điện dung thay đổi.
Màn hình không là phần tử nhạy.
LED là đầu ra khác.
Báo cáo không là tính chất điện.
Lời giải
Hơi ẩm tác động lớp điện môi nên điện dung thay đổi.
Bài luyện
Vì sao bộ điều khiển cần biết cách quy đổi tín hiệu cảm biến?
Loại phần tử nhạy vẫn khác nhau.
Ngưỡng vẫn cần xác định.
Quy đổi không tạo nguồn.
Đúng. Tín hiệu điện chỉ hữu ích khi hiểu quan hệ với đại lượng vật lí.
Lời giải
Tín hiệu điện chỉ hữu ích khi hiểu quan hệ với đại lượng vật lí.
Đang học